95 Luận Đề Của Martin Luther Luận-đề phản-chứng của Tiến-sĩ Martin Luther về Quyền-năng và Thực-quả của Bùa Giải-tội viết bởi Tiến-sĩ Martin Luther ngày 31 tháng 10 năm 1517.

Mục Vụ Chia Sẻ Niềm Tin | Hy Vọng & Tình Yêu | www.quangharvest.com | Chăm Chỉ Đọc Sách | 95 Luận Đề Của Martin Luther | Martin Luther  | Chuyển ngữ: Tường Hân

95LuanDeMartinLuther 1821759 1280x853 1

1. Khi Chúa Giê-xu Christ và là Chúa của chúng ta nói rằng “Poenitentiam agite” tức: Các ngươi hãy ăn-năn, thì Ngài muốn rằng suốt cả cuộc đời của người tin Chúa là một sự ăn-năn.

2. Từ-ngữ này không thể được hiểu như là nghi-thức (bí-tích) giải-tội của Công-giáo, tức là sự xưng-tội và đọc kinh giải-tội như cách mà các linh-mục đã làm.

3. Dầu vậy, từ-ngữ này không phải chỉ nói về sự ăn-năn bên trong không thôi: không đâu, không có một sự ăn-năn bên trong nào mà lại không góp phần vào sự làm chết đi những gì của xác-thịt.

4. Thế nên, hình-phạt [của tội-lỗi] vẫn còn tiếp-tục nếu sự ghét-bỏ chính mình vẫn còn tiếp tục; bởi vì đây mới chính thực là sự ăn-năn bên trong, và sự ăn-năn bên trong sẽ còn tiếp-tục cho đến khi chúng ta bước vào thiên-đàng.

5. Vị Giáo-hoàng không hề có ý-định xóa bỏ, và cũng không đủ sức xóa bỏ bất-kỳ một hình-phạt nào, ngoại-trừ những hình-phạt mà ông đã áp-đặt, hoặc bằng chính thẩm-quyền của mình, hoặc bằng thẩm-quyền của Giáo-luật.

6. Vị Giáo-hoàng không thể xóa được bất-kỳ một tội nào, trừ phi bằng cách công-bố rằng tội ấy đã được Đức Chúa Trời xóa bỏ, và bằng cách chấp-nhận sự tha-tội của Đức Chúa Trời; dầu vậy, để cho được chắc-chắn, vị Giáo-hoàng có thể ban sự tha-tội trong những vụ nào đã được để riêng ra chờ sự phán-quyết của ông. Nếu quyền ban cho sự tha-tội của ông trong những vụ ấy bị khinh-thường, thì tội ấy vẫn hoàn-toàn chưa được tha.

7. Đức Chúa Trời không tha tội cho bất-kỳ người nào mà Ngài không đồng-thời bắt-phục họ trở nên khiêm-nhường trong mọi mặt, và khiến người phải chịu thuận-phục vị cha xứ của Ngài, tức vị linh-mục sở-tại.

8. Những giáo-luật về sự ăn-năn chỉ được áp-đặt trên người còn sống, và theo như những giáo-luật ấy, chúng ta không nên áp-đặt một điều gì trên người sắp chết.

9. Thế nên, Đức Thánh-Linh ngự trong vị Giáo-hoàng tỏ ra rất nhân-từ với chúng ta, bởi vì trong những đạo-luật của ông, ông luôn xem những điều-khoản nói về sự chết và về nhu-cầu là những trường-hợp ngoại-lệ.

10. Trong trường-hợp những người sắp chết, mà những linh-mục nào lại để dành cách giải-tội theo như giáo-điều cho đến khi những người này vào “ngục luyện-tội”, thì đó là những việc làm vô-tâm và độc-ác.

11. Việc đổi hình-phạt theo giáo-luật thành hình-phạt của ngục luyện-tội rõ-ràng là một trong những giống cỏ lùng đã được gieo ra trong lúc các vị giám-mục đang ngủ.

12. Trong thời-gian trước đây, những hình-phạt theo giáo-luật được áp-đặt trước khi, chứ không phải được áp-đặt sau khi đã được tha tội, như là những sự chứng-nghiệm về sự ăn-năn thật.

13. Người sắp chết được miễn tất-cả mọi hình-phạt khi họ qua đời; vì họ xem như đã chết rồi đối với những giáo-luật, và có quyền được giải-thoát khỏi những giáo-luật đó.

14. Sự lành-mạnh không toàn-hảo [của linh-hồn], tức chúng tôi muốn nói rằng, tình-yêu không toàn-hảo của người sắp chết mang đến sự sợ-hãi lớn không thể tránh được; nếu tình-yêu đó càng ít, thì sự sợ-hãi càng lớn.

15. Sự sợ-hãi này cùng sự kinh-khiếp tự chúng đã đủ để tạo thành hình-phạt của ngục luyện-tội, bởi vì điều ấy rất gần với sự kinh-khiếp của tuyệt-vọng.

16. Địa-ngục, ngục luyện-tội, và thiên-đàng có vẻ như khác-biệt nhau một cách tương-tự như sự khác-biệt giữa tuyệt-vọng, gần tuyệt-vọng, và sự bảo-đảm an-toàn.

17. Đối với những linh-hồn ở trong ngục luyện-tội thì điều cần có là sự kinh-khiếp nên giảm đi và tình yêu-thương phải tăng lên.

18. Chúng ta thấy điều có vẻ như không chứng-minh được, dù bằng lý-luận hay bằng Kinh thánh, là những linh-hồn ấy ở ngoài tình-trạng được thưởng, chúng tôi muốn nói là, tình-trạng tình yêu-thương được tăng thêm.

19. Còn nữa, điều chúng ta thấy có vẻ như không chứng-minh được là họ, hay ít ra là tất-cả những linh-hồn ấy lại tỏ ra chắc-chắn, hoặc được cho biết chắc về tình-trạng được phước của chính họ, mặc-dù chúng ta biết khá chắc-chắn về việc này.

20. Thế nên, khi nói rằng “xóa-bỏ hoàn-toàn mọi hình-phạt”, thì vị Giáo-hoàng không thực-sự có ý nói là “mọi hình-phạt” nhưng chỉ nói những hình-phạt nào mà chính ông đã áp-đặt.

21. Thế nên, những người nào giảng về bùa giải-tội đều là sai, tức những người nào nói rằng qua bùa giải-tội của vị Giáo-hoàng thì một người sẽ được giải-thoát khỏi mọi hình-phạt, và linh-hồn sẽ được cứu.

22. Trong khi đó vị Giáo-hoàng lại không xóa một hình-phạt nào cho những linh-hồn ở trong ngục luyện-tội, mà đáng lý ra theo giáo-luật, họ đã phải trả trước rồi trong đời này.

23. Nếu bằng mọi cách nào có thể được để ban sự xóa sạch mọi hình-phạt cho bất-kỳ ai dù tội ấy có như thế nào đi chăng nữa, thì điều chúng ta biết chắc rằng sự xóa-tội này chỉ có thể ban được cho những ai toàn-hảo nhất, tức là, chỉ cho một số người ít nhất.

24. Thế nên, điều ắt có và phải có là phần lớn người ta đã bị đánh lừa bởi lời hứa lầm-lẫn về sự giải-thoát khỏi hình-phạt nghe rất kêu này.

25. Nói một cách tổng-quát, thẩm-quyền mà vị Giáo-hoàng có được trên ngục luyện-tội, là chỉ giống như thẩm-quyền mà bất-kỳ một vị giám-mục, hay một vị cha xứ có trong vòng địa-phận, hay giáo-xứ của họ, trong trường-hợp riêng-biệt này.

26. Vị Giáo-hoàng làm một điều phải, khi người ban phát sự xóa-tội cho những linh-hồn [ở trong ngục luyện-tội], không bởi quyền-năng của chìa khóa ngục (mà chính người không có giữ), nhưng bởi sự cầu thay.

27. Người ta đã giảng-dậy rằng ngay khi những đồng tiền rơi leng-keng vào trong hộp tiền dâng, thì các linh-hồn sẽ bay ra khỏi [ngục luyện-tội].

28. Điều chắc-chắn là khi các đồng tiền rơi leng-keng vào trong hộp tiền dâng, thì vật-chất và lòng tham vật-chất có thể tăng lên, nhưng kết-quả sự cầu-thay của Hội-thánh nằm trong quyền-năng của chỉ riêng Đức Chúa Trời mà thôi.

29. Nào ai biết được rằng có phải mọi linh-hồn trong ngục luyện-tội đều muốn được chuộc ra khỏi nơi đó hay không, như trong huyền-thoại của thánh-đồ Severinus và thánh-đồ Paschal.

30. Không một ai biết được chắc-chắn rằng sự ăn-năn của chính họ là thành-thật hay không, đừng nói chi đến việc họ có nhận được sự xoá-tội hoàn-toàn hay không.

31. Người thực-sự ăn-năn tội-lỗi đã thật hiếm rồi, mà người thực-sự tin vào bùa giải-tội cũng hiếm tương-tự; nghĩa là những người như vậy cực-kỳ hiếm có.

32. Họ sẽ bị rủa-sả đời-đời cùng với các thầy giáo của họ, là những người tin rằng chính họ cảm thấy chắc-chắn về sự cứu-rỗi của mình bởi vì họ có thư ân-xá.

33. Quý-vị phải cảnh-giác về những người nào nói rằng sự ân-xá của vị Giáo-hoàng là quà tặng của Đức Chúa Trời lớn không tưởng được mà nhờ đó con người được hòa-thuận lại với Đức Chúa Trời.

34. Bởi vì những “ân-điển của sự ân-xá” này chỉ quan-tâm đến những hình-phạt về sự chuộc-tội theo giáo-điều, và những điều này do con người định ra.

35. Họ giảng rằng không một giáo-lý Cơ-đốc nào dạy-dỗ rằng không cần-thiết phải có sự ăn-năn cho những người nào định mua linh-hồn ra khỏi ngục luyện-tội, hoặc định mua lời xưng-tội.

36. Mọi Cơ-đốc-nhân nào mà thực-sự ăn-năn đều có quyền được tha các hình-phạt và xóa-tội hoàn-toàn, ngay cả khi họ không có thư ân-xá.

37. Mọi Cơ-đốc-nhân thật, dù còn sống hay đã chết, đều được dự-phần trong mọi ơn-phước của Chúa Giê-xu Christ và của Hội-thánh; và điều này được chính Đức Chúa Trời ban cho, ngay cả khi họ không có thư ân-xá.

38. Tuy-nhiên, sự xóa-tội và dự-phần [vào ơn-phước của Hội-thánh] nào mà đã được vị Giáo-hoàng ban cho thì không ai có quyền khinh-rẻ, bởi vì như tôi đã nói, chúng là sự công-bố của sự tha-tội thiên-thượng.

39. Thật là một điều khó-khăn nhất, cho ngay cả những nhà thần-học sắc-bén nhất, là trong một lần, và cùng một lúc, tuyên-dương với dân-chúng sự dư-dật của ân-xá và [sự cần-thiết ] phải có của ăn-năn thật.

40. Sự ăn-năn thật tìm-kiếm và yêu-mến hình-phạt, nhưng sự ân-xá không nghiêm-chỉnh chỉ làm nhẹ đi hình-phạt, và khiến chúng trở nên bị ghét bỏ, hay ít ra, tạo cơ-hội cho việc ấy [để ghét bỏ chúng].

41. Sự ân-xá bởi các thánh-đồ cần được giảng-dạy một cách dè-dặt, vì sợ rằng dân-chúng có thể nghĩ một cách sai-lầm rằng điều này tốt hơn là những việc lành khác của tình yêu-thương.

42. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng vị Giáo-hoàng không có ý-định rằng người ta đem so-sánh dưới bất-cứ hình-thức nào việc mua sự ân-xá với việc làm do lòng thương-xót.

43. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng ai giúp-đỡ kẻ nghèo-khó, hay cho người đang cần-dùng vay mượn thì làm việc lành tốt hơn là mua giấy ân-xá.

44. Bởi vì tình yêu-thương được sanh ra bởi những việc làm của tình yêu-thương, và con người nhờ đó sẽ trở nên tốt hơn; nhưng con người không trở nên tốt hơn bởi giấy ân-xá, mà chỉ được tự-do khỏi sự hình-phạt hơn.

45. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng ai thấy người khác đang có nhu-cầu nhưng bỏ tránh xa và dùng [tiền của mình] mua sự ân-xá, thì người ấy không phải mua được bùa giải-tội của vị Giáo-hoàng, nhưng mua lấy sự thạnh-nộ của Đức Chúa Trời.

46. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng trừ phi họ có nhiều hơn những gì họ cần, họ bắt-buộc phải giữ lại những gì cần-thiết cho chính gia-đình họ, và không được dùng phung-phí cho giấy ân-xá dưới bất-cứ hình-thức nào.

47. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng việc mua giấy ân-xá là vấn-đề tự-ý, không phải là điều răn.

48. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng khi ban cho sự ân-xá, vị Giáo-hoàng cần, và do đó, ông cũng mong-mỏi những lời cầu-nguyện khẩn-thiết của họ dành cho ông hơn là những món tiền các Cơ-đốc-nhân này đem đến.

49. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng những sự ân-xá của vị Giáo-hoàng là có ích, nếu họ không đặt niềm tin vào chúng, nhưng chúng hoàn-toàn là có hại, nếu bởi vì cớ chúng mà họ mất đi lòng kính-sợ Đức Chúa Trời.

50. Cơ-đốc-nhân phải được dạy-dỗ rằng nếu vị Giáo-hoàng biết được những thủ-đoạn vòi tiền của những người giảng-dạy về sự ân-xá, thì người sẽ ước thà rằng ngôi vương-cung thánh-đường St. Peter bị thiêu-huỷ thành tro bụi còn hơn là để ngôi nhà này được dựng nên bằng da thịt, máu xương của bầy chiên người.

51. Cơ-đốc-nhân cần được dạy-dỗ rằng điều mà vị Giáo-hoàng ước-muốn, và đồng thời cũng chính là bổn-phận của người, là phải đem tiền của chính mình đi cho rất nhiều người khác mà trước đây đã bị những kẻ rao bán sự ân-xá dụ-dỗ tiền-bạc, cho dù người phải bán đi ngôi vương-cung thánh-đường St. Peter để làm việc ấy.

52. Sự bảo-đảm cứu-rỗi nhờ thư ân-xá là vô-ích, ngay cả khi người được ủy-nhiệm, không đâu, ngay cả khi chính vị Giáo-hoàng đặt linh-hồn của người lên để bảo-đảm.

53. Những kẻ nào mà bưng-bít lời Chúa để hoàn-toàn không được rao-giảng tại một số Hội-thánh hầu cho sự ân-xá được rao giảng ở những chỗ khác, thì ấy là kẻ thù của Đấng Christ và của vị Giáo-hoàng.

54. Khi trong cùng một bài giảng mà người ta dùng thời-gian bằng hay nhiều hơn để giảng về sự ân-xá so với thời-gian giảng lời Chúa, thì điều này làm thương-tổn đến Lời của Đức Chúa Trời.

55. Ý-định của vị Giáo-hoàng bắt-buộc phải là, nếu sự ân-xá, vốn là một việc rất nhỏ, được đón mừng bằng một tiếng chuông cùng một lần diễn-hành và nghi-lễ, thì Phúc-âm của Chúa, chính là một điều thật vĩ-đại, phải được rao-giảng với một trăm hồi chuông, một trăm lần diễn-hành và một trăm lần nghi-lễ.

56. Những “bảo-vật của Hội-thánh” mà vị Giáo-hoàng đã dùng để ban phát bùa giải-tội, đã không được nêu tên đúng mức và cũng không được biết đến trong vòng dân-sự của Đức Chúa Trời.

57. Rằng chúng không phải là bảo-vật tạm-thời là điều rõ-ràng lắm, bởi vì rất nhiều kẻ bán rao đã không ban những bảo-vật này ra một cách dễ-dàng đâu, nhưng chỉ thâu-lượm chúng mà thôi.

58. Và chúng cũng không là những công-đức của Đấng Christ và của các Thánh, bởi vì ngay cả khi không có vị Giáo-hoàng, thì những điều này trở nên ân-điển cho con người bề trong, và là thập-tự-giá, sự chết, và địa-ngục cho con người bề ngoài.

59. Thánh Lawrence nói rằng những bảo-vật của Hội-thánh là những kẻ nghèo-khó của Hội-thánh, nhưng người nói vậy là theo như cách dùng ngôn-từ của thời người đang sống.

60. Chúng tôi có thể nói một cách không cẩu-thả rằng chìa khóa của Hội-thánh, mà đã được ban-cho bởi công-đức của Đấng Christ, chính là bảo-vật ấy.

61. Bởi vì điều chúng ta thấy rõ là để có thể xóa-bỏ những hình-phạt và những trường-hợp được dành riêng cho người, thì thẩm-quyền của vị Giáo-hoàng tự nó đã là đủ.

62. Bảo-vật thật của Hội-thánh là Phúc-âm chí-thánh của sự vinh-hiển và ân-điển của Đức Chúa Trời.

63. Nhưng bảo-vật này lẽ tự-nhiên là đáng ghét nhất, vì nó khiến kẻ đầu trở nên kẻ sau rốt.

64. Mặt khác, bảo-vật bùa giải-tội thì lẽ tự-nhiên là dễ chấp-nhận nhất, vì nó khiến kẻ sau rốt trở nên kẻ đầu.

65. Thế nên, những bảo-vật của Phúc-âm là những cái lưới mà trước đây họ quen dùng để đánh lưới những con người của sự giàu-có.

66. Còn bảo-vật của bùa giải-tội là những cái lưới mà bây giờ họ dùng để đánh lưới những sự giàu-có của con người.

67. Những bùa giải-tội mà các thầy giảng kêu lên rằng ấy là “những ân-điển vĩ-đại nhất”, thì đã được người ta biết quả là có như vậy, nếu chỉ nói đến việc chúng góp phần vào sự gia-tăng lợi-lộc.

68. Nhưng thực ra chúng là những ân-điển nhỏ nhất so với ân-điển của Đức Chúa Trời và sự đạo-đức của Thập-tự-giá.

69. Các giám-mục và cha xứ bắt-buộc phải công-nhận sự uỷ-nhiệm của ân-xá bởi sứ-đồ bằng tất-cả lòng tôn-kính.

70. Nhưng họ còn bị bắt-buộc nhiều hơn thế nữa, là họ phải mở mắt to để nhìn cho rõ, lắng tai nghe thật chăm-chú, vì e rằng những thầy giảng này rao-giảng những giấc mơ riêng của họ thay vì rao giảng những gì theo sự uỷ-nhiệm của vị Giáo-hoàng.

71. Người nào mà nói nghịch lại lẽ thật về sự ân-xá bởi sứ-đồ, nguyện cho hắn bị tuyệt-thông (a-na-them) và bị rủa-sả!

72. Nhưng người nào chống-trả lại dục-vọng và sự cấp phép cho các thầy giảng bùa ân-xá, thì nguyện người ấy được hưởng phước!

73. Vị giáo-hoàng đã làm việc công-chính khi người cảnh-cáo những kẻ đã dùng mọi xảo-thuật để mưu-định sự thương-tổn của việc mua bán thư ân-xá.

74. Nhưng người còn định cảnh-cáo nhiều hơn thế nữa những kẻ nào dùng chiêu-bài ân-xá để mưu-định sự thương-tổn của tình yêu-thương và lẽ thật thánh-thiện.

75. Nếu ai nghĩ rằng sự ân-xá của vị Giáo-hoàng là vĩ-đại đến độ chúng có thể xóa sạch tội cho một người ngay cả khi người ấy đã phạm một tội lớn không tưởng được và đã xâm-phạm đến người mẹ của Đức Chúa Con – thì đấy là sự điên-cuồng.

76. Trái lại, chúng tôi nói rằng, sự ân-xá của vị Giáo-hoàng không đủ sức để xóa đi những tội dù nhỏ nhất của những tội loại không đáng chết.

77. Người ta còn nói rằng, ngay cả thánh Phi-e-rơ (Phê-rô) nếu bây giờ là vị Giáo-hoàng, cũng không thể ban cho ân-điển lớn hơn được; đây là lời phạm-thượng đối với thánh Phi-e-rơ (Phê-rô) và đối với vị Giáo-hoàng.

78. Trái lại, chúng tôi nói rằng, ngay cả vị Giáo-hoàng hiện-tại, hay bất-kỳ một vị Giáo-hoàng nào nói chung, đều có sẵn những ân-điển lớn hơn để người tuỳ-tiện xử-dụng; tức là Phúc-âm, quyền-năng, ơn-tứ chữa bệnh, vân vân… như đã được chép trong 1 Cô-rinh-tô 12.

79. Nếu người ta nói rằng thập-tự-giá, khi được chạm-trổ cầu-kỳ bằng huy-hiệu của vị Giáo-hoàng, vốn là sự xếp-đặt [bởi những kẻ rao-giảng về thư ân-xá], thì có giá-trị ngang với Thập-tự-giá của Đấng Christ, thì ấy là tội phạm-thượng.

80. Các vị giám-mục, linh-mục và các vị giáo-sư thần-học nào mà cho phép những câu chuyện như vậy lan-truyền trong vòng dân-sự thì sẽ có một món nợ phải trả.

81. Sự giảng-dạy không hạn-chế về thư ân-xá này khiến cho sự việc trở nên không dễ-dàng, cho ngay cả những người giầu kiến-thức, để có thể cứu-vãn sự tôn-kính mà vị Giáo-hoàng đáng được hưởng khỏi bị hoen-ố, kể cả việc cứu-vãn khỏi những câu hỏi tinh-tế của hàng giáo-dân.

82. Tức họ nói rằng: “Tại sao vị Giáo-hoàng lại không đại-phóng-thích ngục luyện-tội vì cớ tình yêu-thương, và vì nhu-cầu cấp-bách của những linh-hồn hiện đang ở đó, mà lại cứu vô-số kể những linh-hồn để được những món tiền đáng thương, rồi dùng tiền đó để xây thánh-đường? Những lý-do đầu thật công-bình, còn những lý-do sau thì thật là vụn-vặt.”

83. Còn nữa: “Tại sao những thánh-lễ an-táng và kỷ-niệm tang-lễ cho người đã chết vẫn còn được tiếp-tục, và tại sao vị Giáo-hoàng lại không thay mặt cho họ hoàn lại, hay cho phép rút ra khoản tiền hứa dâng, bởi vì việc cầu-nguyện cho người đã được cứu-chuộc là điều sai-trật?”

84. Còn nữa: “Sự đạo-đức mới này của Đức Chúa Trời và của vị Giáo-hoàng là như thế nào, khi chỉ vì tiền mà các Đấng ấy lại cho phép một người vốn là vô đạo-đức và là kẻ thù của các Đấng ấy, mua ra khỏi ngục luyện-tội một linh-hồn đạo-đức của một người bạn Đức Chúa Trời, mà các Đấng ấy lại không vì chính nhu-cầu của linh-hồn đạo-đức thân-yêu ấy mà giải-thoát linh-hồn này bởi cớ một tình yêu-thương đơn-thuần?”

85. Còn nữa: “Tại sao qua những dữ-kiện thực-tế và qua sự không xử-dụng cho thấy rằng những kinh giải-tội đã bị mất hiệu-lực và đã chết từ lâu rồi, mà bây giờ chúng lại được xem là đủ điều-kiện qua sự ban-bố bùa giải-tội, như thể là chúng vẫn còn sống, và đang sống một cách mạnh-mẽ?”

86. Còn nữa: “Tại sao vị Giáo-hoàng, ngày hôm nay vốn là người mà sự giàu-có còn hơn cả người giàu nhất của những người giàu, lại không dùng tiền của chính mình để xây ngôi vương-cung thánh-đường St. Peter, mà lại dùng tiền của những tín-đồ nghèo để xây?”

87. Còn nữa: “Vị Giáo-hoàng tha những gì, và người ban-bố sự dự-phần nào cho những người mà qua sự ăn-năn hoàn-toàn của họ, họ có quyền được hưởng sự tha-tội hoàn-toàn và được dự-phần hoàn-toàn?” 88. Còn nữa: “Có ơn-phước nào đến với Hội-thánh lớn hơn bằng ơn-phước khi vị Giáo-hoàng ngày hôm nay chỉ cần làm một lần những gì người mà trước đây người phải làm hằng trăm lần mỗi ngày, và ban-phát được cho mọi tín-đồ những sự tha-tội và dự-phần này?”

89. “Bởi vì vị Giáo-hoàng, qua sự ân-xá của người, đi tìm-kiếm sự cứu-rỗi cho linh-hồn hơn là đi tìm tiền-bạc, thì tại sao người lại đình-chỉ những bùa giải-tội và thư ân-xá đã được ban-bố từ trước đến bây giờ, trong khi những vật này có thực-quả tương-đương?”

90. Nếu chỉ dùng sức mạnh để bắt-phục những sự tranh-luận và ngờ-vực của hàng giáo-dân, mà không giải-quyết bằng cách trình-bày lý-lẽ, tức là phơi-bày Hội-thánh và vị Giáo-hoàng cho kẻ thù bêu-riếu, và làm cho các Cơ-đốc-nhân buồn lòng.

91. Cho nên, nếu những thư ân-xá được rao giảng theo tâm-linh và tâm-trí của vị Giáo-hoàng, thì tất-cả những ngờ-vực này sẽ được hóa-giải dễ-dàng; không phải vậy, chúng sẽ không còn hiện-hữu.

92. Vậy đó, hỡi những tiên-tri nào mà nói với dân-sự của Đấng Christ rằng: “Bình-an, bình-an”, trong khi không có sự bình-an, các ngươi hãy dang xa ra!

93. Nguyện ơn-phước đến cho những tiên-tri nào nói với dân-sự của Đấng Christ là: “Thập-tự-giá, thập-tự-giá”, trong khi không có thập-tự-giá!

94. Cơ-đốc-nhân phải được thúc-dục rằng họ cần phải bền-đỗ trong việc theo Đấng Christ, là Đầu của họ, để vượt qua những hình-phạt, sự chết, và địa-ngục.

95. Và vì thế, họ sẽ trở nên tin-quyết về việc vào thiên-đàng qua nhiều sự khổ-nạn, hơn là qua sự bảo-đảm bình-an.


Thêm bình luận

Tìm Kiếm

Dâng Hiến Ủng Hộ Mục Vụ

Nhà Tài Trợ Cho Mục Vụ

Thống Kê Truy Cập

11402219
Hôm Nay
Hôm Qua
Tuần Này
Tuần Trước
Tháng Này
Tháng Trước
Tất Cả
18688
26440
45128
242389
606830
9835398
11402219

22-10-2019 18:44:19

Đang Trực Tuyến

Đang có 622 khách và một thành viên đang online

Đăng Ký Nhận Bản Tin!

Từ Mục Vụ Chia Sẻ Niềm Tin | Hy Vọng & Tình Yêu | www.quangharvest.com

ĐĂNG KÝ HOÀN THÀNH! Một e-mail với các bước tiếp theo để hoàn thành đăng ký đã được gửi đến địa chỉ e-mail.

Vui lòng kiểm tra email của bạn (bao gồm thư mục thư rác/spam) và hoàn tất đăng ký. Để nhận lại e-mail, đăng nhập bằng tên người dùng và mật khẩu đã nhập ở trên.